Trong không khí hào hùng của những ngày thu lịch sử, nhìn lại thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng ta không khỏi xúc động trước tinh thần kiên cường, quả cảm của các thế hệ cha anh. Tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, những kỷ vật lịch sử giản dị, thô sơ đang được trân trọng lưu giữ chính là những minh chứng sống động, tái hiện chân thực khí thế quật khởi giành chính quyền của Nhân dân các dân tộc Lâm Đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một góc trưng bày Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng
Mùa thu năm 1945, khi giờ phút quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến, Lời kêu gọi Toàn quốc khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh như ngọn lửa châm bùng lên lòng yêu nước nồng nàn của Nhân dân khắp mọi miền đất nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.
Hưởng ứng Lời kêu gọi thiêng liêng ấy, Nhân dân Lâm Đồng đã đồng lòng vùng lên tước vũ khí của quân phát xít Nhật, đập tan ách thống trị, lập nên chính quyền cách mạng. Trong cuộc chiến không cân sức về trang bị ấy, những công cụ lao động và vật dụng đời thường - từ chiếc phạn phát rẫy, lưỡi búa sử dụng trong gia đình cho đến con dao găm do người thợ mộc tự rèn, đã hóa thành nhữngh vũ khí sắc bén, cùng những người chiến sĩ cách mạng viết nên thiên sử anh hùng.
Cuộc nổi dậy sục sôi mang khí thế tiến công quật khởi, khi chiếc phạn mộc mạc của bác Trần Văn Thông (thôn Xuân Sơn, xã Xuân Trường, nay thuộc Phường Xuân Trường - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) - một nông cụ làm vườn quen thuộc của nông dân vùng cao đã đồng hành cùng người chiến sĩ cách mạng xuyên suốt chặng đường từ Cầu Đất, D'Ran đến Di Linh.
Nhận rõ dã tâm của phát xít Nhật khi ép buộc thanh niên Bảo an Đoàn đi đào hầm quân sự ở Chi Lăng, đồng chí Trịnh Lý - một đảng viên kiên trung đã chủ động đứng ra tập hợp nhóm thanh niên trong đó có bác Thông và tự trang bị vũ khí để nổi dậy cướp chính quyền. Trước sức mạnh cuộn trào của Nhân dân, quân Nhật tại đồn Cầu Đất (nay thuộc phường Xuân Trường - Đà Lạt) buộc phải đầu hàng, giao lại toàn bộ đồn trại với 6 khẩu súng, sau đó trang bị cho lực lượng tự vệ của ta. Ngay sau thắng lợi này, đồng chí Trịnh Lý tiếp tục dẫn dắt lực lượng tiến xuống D'Ran.

Vào khoảng 18 giờ ngày 19 tháng 8 năm 1945, bằng sự kiên quyết và khéo léo, ta đã thuyết phục thành công quân Nhật tại D'Ran đầu hàng, thu giữ 51 khẩu súng trao cho lực lượng thanh niên tự vệ D'Ran. Tại đây, cai Hồ và đội Thăng cũng đã giác ngộ và đi theo kháng chiến.
Đến khoảng 13 giờ ngày 20 tháng 8 năm 1945, lực lượng giành chính quyền tập kết tại sở cà phê Lang Hanh. Đồng chí Trịnh Lý cùng đội Thăng vào Di Linh thuyết phục Quản đạo Cao Minh Hiếu, đến 16 giờ chiều cùng ngày, Cao Minh Hiếu đầu hàng, giao nộp 120 khẩu súng (trong đó có 3 khẩu súng máy). Đồng chí Trịnh Lý đã lập tức huy động nhân dân tổ chức cuộc mít tinh mừng thắng lợi tại sân vận động Di Linh trước khi lực lượng trở về D'Ran trong đêm. Trong suốt tiến trình lịch sử oai hùng ấy, chiếc phạn thô sơ luôn là “người bạn đường” tin cậy, khiến quân phát xít phải khiếp sợ trước tinh thần quật cường của Nhân dân.
Khí thế cách mạng không chỉ cuộn trào qua từng xóm làng, quét qua các đồn bốt địch, mà còn bùng cháy ngay tại trung tâm đô thị Đà Lạt với những trận chiến giáp lá cà nảy lửa. Tại sân vận động Đà Lạt vào năm 1945, đáp lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, anh đã không ngại hiểm nguy, mang theo chiếc búa gia đình sử dụng hàng ngày, để lăn xả chặt phá các lớp hàng rào kẽm gai, tạo thuận lợi cho quần chúng Nhân dân xông vào tước vũ khí quân Nhật. Trong trận chiến ác liệt đó, anh Lưu Văn Dữ đã anh dũng hy sinh ngay trước ngưỡng cửa tự do. Lưỡi búa đẫm máu và nước mắt ấy không chỉ mở ra con đường tiến công cho đồng đội mà đã hóa thành hiện vật thiêng liêng về những máu xương đã đổ xuống cho bình minh độc lập của dân tộc.

Sự hy sinh anh dũng ấy càng thổi bùng quyết tâm chống Nhật cứu nước trong lòng đông đảo quần chúng, đặc biệt là giai cấp công nhân. Hưởng ứng làn sóng cách mạng dâng cao, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng dươm, ông Năm Hổ - một người thợ mộc đã tự tay rèn nên con dao găm sắc bén để tự trang bị vũ khí, kết đoàn cùng quần chúng Nhân dân. Với con dao găm nhỏ bé trong tay, ông Năm Hổ cùng đông đảo anh em công nhân tại Đà Lạt đã quả cảm tham gia trận đánh Nhật vào ngày 27 tháng 8 năm 1945 tại các mục tiêu trọng yếu, như: Nhà Đèn, nhà hàng Palace và Kho Bạc. Dù lực lượng chênh lệch và vũ khí thô sơ khiến hơn 40 công nhân đã anh dũng hy sinh, nhưng cuộc chiến quả cảm tại Nhà Đèn cùng hình ảnh con dao găm tự rèn đã trở thành biểu tượng bất tử cho lòng yêu nước mãnh liệt và quyết tâm một lòng theo Đảng của công nhân phố núi.

Giờ đây, khi khói lửa chiến tranh đã lùi xa, những hiện vật lịch sử quý giá vẫn đang lặng lẽ hội tụ dưới một mái nhà chung Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng để bảo tồn và phát huy giá trị. Từ chiếc phạn được bác Trần Văn Thông tiếp tục dùng trong sinh hoạt gia đình trước khi hiến tặng vào đợt sưu tầm năm 1980, chiếc lưỡi búa được gia đình anh Lưu Văn Dữ cẩn thận giữ gìn như kỷ vật vô giá rồi trao tặng năm 1978, đến con dao găm được ông Năm Hổ lưu giữ và gửi tặng lại sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng..., tất cả gắn kết lại thành một bản hùng ca liền mạch về lòng yêu nước bất diệt.
Qua từng nét gỉ sét trên lưỡi búa thô sơ của anh Lưu Văn Dữ, nét sắc bén kiên cường trên con dao găm của ông Năm Hổ, hay dáng dấp mộc mạc của chiếc phạn bác Trần Văn Thông, du khách và thế hệ trẻ hôm nay như được sống lại những giây phút sục sôi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Những hiện vật ấy chính là nhịp cầu nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại, là điểm tựa tinh thần vững chắc để Nhân dân Lâm Đồng tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống cách mạng, chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.


































































































































































