Người xưa coi tùng là đại diện cho trăm cây, tùng có sức sống mãnh liệt, vượt lên những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh sống, là nét khác biệt với các loài cỏ cây hoa lá thông thường. Trong văn học và đời sống, cây tùng được liên hệ với người quân tử luôn nhẫn nại, có ý chí tự lực tự cường, luôn vượt lên gian khó, hoàn thiện mình để chiến thắng mọi thử thách của nghịch cảnh và luôn giữ được sự ngay thẳng, tinh thần vững vàng. Thời nhà Nguyễn, hình tượng cây tùng được sử dụng phổ biến trong trang trí ở các công trình kiến trúc cung đình và chạm khắc trên nhiều vật dụng của vua quan.

Trong lịch sử dân tộc nói chung và với triều Nguyễn nói riêng, có thể tìm thấy những câu thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt diễn tả về đặc tính của cây tùng trong mối liên hệ với phẩm chất tốt đẹp của con người, như “tùng bách hậu điêu” (tùng bách điêu tàn về sau), “tùng bách chi chí” (chí lớn như tùng bách), “trinh tùng cân bách” (vững chãi như tùng bách), “tùng quân chi tiết” (khí tiết như tùng trúc), “tùng chi quải kiếm” (gác kiếm cành tùng - dáng vẻ oai phong), “ngọc khiết tùng trinh” (vững như tùng, trong như ngọc)… Cây tùng còn tượng trưng cho sức khỏe, sự trường thọ, như “tùng bách chi thọ” (thọ như tùng bách); sự hưng thịnh lâu bền, như “tùng mậu trúc bào”; mối kết giao bè bạn lúc hoạn nạn khó khăn, như “tùng bách hàn minh”; tình cảm vợ chồng hòa thuận, như “tùng la cộng ỷ”… Trong xã hội phong kiến, cây tùng còn được dùng để ví với cuộc sống của những kẻ sỹ sống ẩn dật, làm bạn với non cao, tùng xanh, hạc gầy, suối trong, mây trắng, giữ cho phẩm giá thanh cao, như “xan tùng ẩm giản”, “hạc cốt tùng tư”…
Ý nghĩa ẩn dụ của cây tùng đã phản ảnh sinh động mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên và quan niệm thiên, địa, nhân nhất thể. Cùng với cây trúc, cây mai thì cây tùng đã tham gia tích cực vào việc cấu tạo nên rất nhiều thành ngữ, làm giàu cho ngôn ngữ - văn hóa dân tộc.
Ngoài thơ ca, tục ngữ, trong đời sống, hình tượng cây tùng được sử dụng khá nhiều trong lĩnh vực mỹ thuật, trang trí và điêu khắc. Người phương Đông quan niệm rằng, “Tứ thời” (mai tượng trưng cho mùa Xuân; liên (sen) tượng trưng cho mùa Hạ; cúc tượng trưng cho mùa Thu; tùng tượng trưng cho mùa Đông) là biểu hiện của sự đầy đủ, vững chắc, vĩnh cửu, hạnh phúc... Vì thế, Tứ thời trở thành đề tài rất thông dụng trong nghệ thuật trang trí truyền thống và có những kiểu thức quen thuộc sinh động, với nhiều tên gọi và ý nghĩa tượng trưng khác nhau, trong đó có những hình tượng đầy phẩm chất nhân văn Nho giáo, như mai điểu (chim đậu cành mai); liên áp (vịt bơi bên hoa sen); cúc điệp (bướm đậu trên hoa cúc); tùng hạc hay tùng lộc (con hạc đứng dưới cây tùng, hay con hươu dứng dưới cây tùng)...
Trong trang trí cung đình thời Nguyễn, hình tượng cây tùng hóa rồng xuất hiện nhiều ở nghệ thuật nề đắp nổi, khảm sành sứ ở các công trình kiến trúc. Bên cạnh đó, hình tượng cây tùng cũng xuất hiện trên Dụ đỉnh (một trong Cửu đỉnh). Những điều này phản ánh khá sâu đậm quan niệm mỹ thuật cung đình và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ.

Đặc biệt, khi đến tham quan Cung Nam Phương Hoàng hậu nằm trong khuôn viên của Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hình tượng cây tùng chạm khắc trên một số hiện vật thuộc nhóm “Văn phòng tứ bảo” (những đồ dùng trong văn phòng của vua quan trước kia), nằm trong Sưu tập Cổ vật cung đình triều Nguyễn.
Tại lầu 2 của Cung Nam Phương Hoàng hậu, du khách sẽ được chiêm ngưỡng gác bút do nghệ nhân trong Ngự xưởng triều Nguyễn chế tác. Gác bút này được làm từ ngọc nguyên khối màu trắng đục và màu sắc không đều nhau. Gác bút có dáng thấp và dài rất giống hình ngọn núi (giả sơn), độ dày, mỏng của gác bút không đồng đều. Mép trên và ở giữa thân được khoét rất nhiều lỗ tròn nhỏ để gác bút. Các lỗ tròn này được khoét chồng chéo nhau. Mặt trước gác bút có khắc tượng một ông lão râu dài, một tay đang chống gậy đứng cạnh gốc cây tùng và dáng một chim hạc. Mặt sau được khắc nhiều lỗ lồi lõm khác nhau. Trong nghệ thuật tạo hình, cây tùng và chim hạc tạo thành một cặp “tùng hạc diên niên” có ý chúc thọ.
Bên cạnh đó, du khách còn được chiêm ngưỡng Ống cắm bút do nghệ nhân trong Ngự xưởng triều Nguyễn chế tác từ đá ngọc màu trắng ngà. Ống có dáng cao, thân hơi dẹt, phía trên miệng hình oval, loe rộng. Miệng ống được mài nhẵn, trên thân trang trí nổi hai cành tùng và mây cách điệu. Các chi tiết này được chạm khắc khá tỉ mỉ.
Sự xuất hiện của hình tượng cây tùng hay biểu tượng “Tùng - hạc - lão” trên các hiện vật của Sưu tập Cổ vật cung đình triều Nguyễn không chỉ thể hiện sự tài hoa, trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật chế tác đỉnh cao của người thợ thủ công trong “Ngự xưởng” của triều Nguyễn, mà còn ẩn chứa cả những quan niệm và triết lý sống của người Việt xưa. Công chúng khi tới tham quan Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng sẽ có những trải nghiệm thú vị và tiếp cận gần hơn với di sản văn hóa triều Nguyễn tại đây.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Thanh Hóa điện tử (2021), Hình tượng tùng, cúc, trúc, mai trong kiến trúc gỗ truyền thống xứ Thanh.
2. Báo điện tử VTCNews (2024), Ý nghĩa phong thủy của cây tùng.
3. Bảo tàng Lâm Đồng (2019), Báu vật cung đình triều Nguyễn tại Bảo tàng Lâm Đồng.
4. Phạm Ngọc Hàm, Lê Thị Kim Dung (2018), Ý nghĩa ẩn dụ của tùng, trúc, mai trong tiếng Hán và tiếng Việt.
5. Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế (2021), Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 36.
6. Tạp chí Sông Hương (2021), Ý nghĩa các hình tượng “hóa” trong trang trí mỹ thuật thời Nguyễn.
7. Website thuyết minh số của Bảo tàng Lâm Đồng: https://tmso.baotanglamdong.com.vn

































































































































































