Dân tộc họcBùi Thị Trang

Nghi thức “chạm trán” trong đám cưới người Mạ ở Lâm Đồng - bản tình ca son sắt giữa đại ngàn

Giữa đại ngàn bao la, nơi những đỉnh núi và tiếng gió ngàn thì thầm qua những cánh rừng, cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số lâu đời ở tỉnh Lâm Đồng luôn ẩn chứa những nét văn hóa vô cùng kỳ diệu. Trong dòng chảy văn hóa đầy sắc màu ấy, đám cưới không chỉ là ngày vui của một đôi trai gái, mà còn là ngày hội lớn của cả buôn làng, nơi những phong tục cổ xưa được đánh thức trọn vẹn nhất. Hôn lễ nơi đây mang một vẻ đẹp nguyên bản, mộc mạc nhưng lại vô cùng thiêng liêng. Đó là câu chuyện được viết nên từ sắc màu rực rỡ của những tấm thổ cẩm dệt tay, từ hương thơm nồng nàn của chóe rượu cần và đặc biệt là từ những lời thề nguyện sắt son dưới sự chứng giám của thần linh cùng núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ. Tất cả những giá trị tinh thần cao đẹp đó được hội tụ và thể hiện rõ nét qua một nghi thức độc đáo, có một không hai trong đám cưới của người Mạ ở Lâm Đồng: nghi thức chạm trán dưới tấm đắp.

Ảnh nghi thức chạm trán trong lễ cưới của người Mạ ở tỉnh Lâm Đồng, trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng

Từ lời dạm hỏi đến ngày vui sau mùa lúa rẫy

Người Mạ (hay còn gọi là Châu Mạ) là một trong những dân tộc thiểu số có lịch sử cư trú lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bức tranh văn hóa đặc sắc của tỉnh Lâm Đồng. Từ bao đời nay, người Mạ đã chọn các thung lũng trù phú và lưu vực các con sông lớn, đặc biệt là thượng nguồn sông Đồng Nai làm nơi lập đất, dựng buôn. Tại Lâm Đồng, cộng đồng người Mạ cư trú tập trung chủ yếu ở các xã phía Nam và Tây Nam như Lộc Bắc, Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Huoai... Người Mạ sống gắn liền với thiên nhiên, dựa vào núi rừng, sông suối và nương rẫy. Chính vì vậy, thời điểm lý tưởng nhất để tổ chức đám cưới thường rơi vào khoảng cuối năm, khi mùa lúa rẫy đã thu hoạch xong, kho lúa đã đầy và lòng người thảnh thơi.

Người Mạ theo chế độ phụ hệ, nhà trai có quyền chủ động trong hôn nhân. Khi chàng trai tìm được người con gái tâm đầu ý hợp, anh sẽ trở về thưa chuyện cùng cha mẹ và nhờ người mai mối sang nhà gái đánh tiếng dạm hỏi. Nếu nhà gái ưng thuận, hai bên sẽ cùng nhau xem xét để định ngày lành tháng tốt. Nghi lễ hôn nhân của người Mạ trải qua hai nghi lễ bắt buộc: lễ hỏi và lễ cưới. 

Lễ hỏi: Khi được cha mẹ chấp thuận, người con trai về thưa với bố mẹ, nhờ bà mối sang nhà gái đem theo đồ lễ xem mặt và dò hỏi lễ vật thách cưới bên nhà gái. Đến ngày ấn định, gia đình bên nhà trai mang theo lễ vật đến nhà gái, gồm ché rượu, vòng đồng, chuỗi hạt, tấm đắp, váy, khố. Khi hai họ đồng ý, chú rể sẽ đeo vòng đồng và chuỗi hạt cườm cho cô gái để thực hiện việc đính hôn.

Lễ cưới: sau lễ hỏi vài tháng hoặc một năm, tùy điều kiện kinh tế của gia đình nhà trai mà lễ cưới sẽ được tổ chức. Lễ vật thách cưới thường là chiêng, chóe, trâu (hoặc heo), tấm đắp, khố, váy,… Những lễ vật thách cưới tùy vào điều kiện nhà trai có thể đáp ứng đầy đủ ngay hoặc có thể trả dần sau đó. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, dân làng bên nhà gái ăn uống trước. 

Trước tiên, họ sẽ tiến hành cúng tại nhà, lễ vật cúng gồm ché rượu, một con gà luộc, cơm nếp, bánh bột nếp, tất cả được bày trên sàn nhà giữa không gian thiêng. Trước sự chứng kiến của những người có vai vế trong dòng tộc, buôn làng, cô dâu và chú rể trao nhau gói bánh và uống chung ché rượu, với ý nghĩa từ nay hai người sẽ bắt đầu cuộc sống chung, gắn bó với nhau suốt đời. Sau khi người chủ hôn cùng người cậu của chú rể đại diện hướng dẫn làm lễ, họ trang trọng cất tiếng đọc lời khấn cầu. Trong lời khấn cầu trầm bổng, họ xin Yàng ban cho đôi vợ chồng trẻ sức khỏe dồi dào, sinh nhiều con cái và những mùa rẫy sau luôn tốt tươi, được mùa. Khi lời khấn vừa dứt, không gian như lắng đọng lại, nhường chỗ cho phần thiêng liêng nhất của đám cưới bắt đầu.

Các hiện vật thường dùng trong lễ cưới của người Mạ ở tỉnh Lâm Đồng, trưng bày tại  Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng

Nghi thức “chạm trán 7 cái” dưới tấm đắp mới 

Đây chính là khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong hôn lễ của người Mạ, một nghi thức mang tính thề nguyền vô cùng sâu sắc. Đôi trai gái đứng sát bên nhau trước bàn thờ, người chủ hôn kính cẩn tiến đến, nhẹ nhàng bôi một chút máu của con vật hiến tế lên trán của cả cô dâu, chú rể để cầu mong may mắn và xua đuổi mọi điều xấu xa trong cuộc sống. Tiếp sau đó, cặp đôi cùng quỳ gối và đối mặt với nhau. Người chủ hôn liền lấy một tấm đắp mới còn thơm mùi sợi dệt trùm lên đầu cả hai người. Trong không gian nhỏ bé, riêng biệt dưới tấm đắp ấy, cô dâu và chú rể cùng nhau thực hiện hành động chạm trán đúng bảy cái. Con số bảy linh thiêng với những cái chạm trán định mệnh này chính là biểu thị cho sự đồng lòng, “tâm đầu ý hợp”, hòa quyện trọn vẹn về cả tâm hồn lẫn thể xác. Đó cũng là lời thề thủy chung son sắt mà họ gửi gắm trước sự chứng kiến của thần linh và toàn thể buôn làng. Khi tấm đắp được mở ra, người cậu của chú rể bước tới, ân cần trao cho mỗi người một chiếc bánh bột nếp. Cô dâu và chú rể lần lượt trao qua đổi lại cho nhau, cùng chia nhau ăn chung hai chiếc bánh và cùng vít chung một chiếc cần rượu, chậm rãi hút những giọt rượu nồng từ chóe rượu cúng Yàng. Nghi thức này chính thức đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc đời họ: Từ nay họ đã hòa làm một, như hạt gạo quyện vào dòng nước ngọt lành, chồng đâu vợ đó, họ sẽ cùng chung một mâm cơm, chung một cần rượu và khăng khít gắn bó bên nhau suốt cuộc đời.

Tiệc cưới thâu đêm nơi buôn làng

Khi phần lễ trang nghiêm vừa khép lại, không khí lễ hội lập tức tràn ngập không gian làng bản. Người dân trong làng đến chung vui, ai nấy đều hân hoan mang theo một chóe rượu cần làm quà mừng. Từ hàng chục chóe rượu ấy, chóe thơm ngon nhất sẽ được cẩn thận chọn ra để mời cha mẹ hai bên cùng cặp vợ chồng trẻ uống ngụm đầu tiên khai tiệc. Mâm cỗ đãi khách lúc này mang hương vị đặc trưng của núi rừng đại ngàn. Những miếng thịt trâu, thịt heo được cắt nhỏ, ướp muối đậm đà rồi xâu vào từng thanh tre mang đi nướng chín vàng, tỏa hương thơm phức bên cạnh những tô cháo lòng nấu loãng nóng hổi. Trong hương thơm của thức ăn và men rượu cần ngây ngất, ngày vui biến thành một ngày hội thực sự. Nhóm thanh niên nam nữ rủ nhau gảy đàn, cất tiếng hát và hòa mình vào các điệu nhảy múa nhịp nhàng, biến nơi đây thành chiếc cầu nối cho nhiều đôi lứa khác bén duyên. Ở một góc khác, nhóm các cụ già lại tụ họp bên nhau để đánh cồng chiêng, thổi khèn bầu và ngân nga những câu hát đối đáp mang đậm chiều sâu của ca dao, tục ngữ cổ. Tiếng cồng chiêng rộn rã cứ thế vang vọng, giữ cho ngọn lửa bếp nhà sàn luôn cháy sáng và kéo dài cuộc vui thâu đêm suốt sáng.

Sáng hôm sau, khi ánh bình minh vừa ló rạng, lễ rước cô dâu về nhà chồng chính thức được tiến hành, khép lại ngày vui rộn ràng và mở ra một chương mới đầy hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ.

Dù cuộc sống hiện đại ngày nay có nhiều đổi thay, các nghi lễ trong đời sống cũng đã biến đổi nhiều, nhưng nghi thức chạm trán dưới tấm đắp của người Mạ ở mảnh đất đại ngàn Lâm Đồng vẫn mãi là một nét đẹp văn hóa truyền thống. Đó là minh chứng đầy tính nhân văn về tình nghĩa vợ chồng son sắt, một nghi thức thiêng liêng cần được trân trọng, bảo tồn và tôn vinh. Nét đẹp ấy chính là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là lời khẳng định mạnh mẽ về sức sống bền bỉ của văn hóa truyền thống làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Lâm Đồng.