Tổng hợp

Tìm hiểu kỹ thuật canh tác lúa nước và bộ nông cụ cày, bừa truyền thống của người Chu Ru ở Lâm Đồng

Detailed Information
Trong không gian trưng bày “Đặc trưng văn hóa các dân tộc” tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, những hiện vật nông cụ truyền thống của người Chu Ru đã mở ra câu chuyện sinh động về lịch sử cư trú và truyền thống lao động của cộng đồng này. 
Cày (ảnh trái) và bừa (ảnh phải) của người Chu Ru ở Lâm Đồng
Là một trong những tộc người sinh sống lâu đời tại Nam Tây Nguyên, khác với nhiều tộc người lân cận mà đời sống gắn liền với kinh tế nương rẫy, người Chu Ru thường chọn định cư ở những vùng thung lũng bằng phẳng. Tận dụng điều kiện tự nhiên ưu đãi cùng nguồn nước dồi dào, bên cạnh việc làm nương rẫy và làm vườn, người Chu Ru đã sớm phát triển phương thức canh tác lúa nước. Qua nhiều thế hệ, họ tích lũy được hệ thống tri thức dân gian phong phú về đất đai, nguồn nước, mùa vụ. Người Chu Ru còn tạo ra bộ nông cụ cày bừa tuy mộc mạc, nhưng tối ưu cho việc chuẩn bị đất canh tác.
Gắn liền với kỹ thuật làm đất trong canh tác lúa nước chính là bộ nông cụ cày bừa truyền thống. Đây là một sáng tạo kỹ thuật độc đáo, thể hiện sự am hiểu sâu sắc về đặc tính thổ nhưỡng và nguồn vật liệu tự nhiên của người Chu Ru. Chiếc cày giữ vai trò quan trọng ở công đoạn đâm sâu, phá vỡ lớp đất mặt khô cứng, hoặc sỏi đá sau vụ nghỉ. Thân cày được đẽo gọt thủ công từ một thanh gỗ rừng chắc chắn, chọn lựa kỹ từ những đoạn cây có độ cong tự nhiên để tạo thế cân bằng và chịu lực tải lớn khi gia súc kéo đi. Phần đuôi cày tạo dáng vồng lên thành tay cầm vừa vặn để người điều khiển dễ dàng ghì giữ, định hướng đường cày. Điểm cải tiến kỹ thuật nổi bật nằm ở phần lưỡi cày. Từ chất liệu gỗ cứng ban đầu, người Chu Ru đã tiếp thu kỹ thuật rèn thủ công để chế tác lưỡi cày bằng sắt. Lưỡi cày sắt có hình lưỡi mác với mũi nhọn, vát mỏng ở hai bên mép và hơi cong nhẹ ở sống giữa. Thiết kế này giúp lưỡi cày cắm sâu vào lòng đất, lật đảo tầng đất mạ bên dưới lên bề mặt, đồng thời cắt đứt hoàn toàn hệ thống rễ cỏ dại và sục khí cho đất bùn. Đầu trên của thân cày được nối chắc chắn với một ách gỗ gài ngang qua vai trâu hoặc bò, chuyển toàn bộ sức kéo của gia súc thành cơ năng tác động trực tiếp vào từng thớ đất.
Sau khi chiếc cày hoàn thành nhiệm vụ xới tung lớp đất thô, chiếc bừa nối tiếp công đoạn làm tơi cấu trúc bề mặt ruộng. Bừa có cấu tạo hình khung chữ nhật hoặc hình thang mở rộng, được kết hợp khéo léo giữa chất liệu gỗ cứng và tre già dẻo dai. Thân chính của bừa là một thanh gỗ nguyên khối đẽo vuông vắn, dài từ 1,5 - 1,7m. Trên thanh gỗ này, người thợ đục các lỗ mộng thẳng hàng với khoảng cách đều đặn để cắm hơn 10 răng bừa. Răng bừa được vót nhọn tỉ mỉ từ những gióng tre đực già hoặc thanh gỗ cứng, mỗi răng dài khoảng 0,2m, cắm thẳng đứng và nhô đều xuống phía dưới. Từ hai đầu thân bừa, hai gọng bừa bằng tre già uốn cong dài khoảng hai mét vươn về phía trước, đan chéo và cố định chắc chắn vào ách kéo gia súc. 
Khi trâu hoặc bò kéo, chiếc bừa lướt trên mặt ruộng, hệ thống răng tre vót nhọn cắm sâu vào lớp đất cày, xé nát các khối đất và cào theo những tàn dư rễ cỏ. Bừa còn san bằng các gờ đất, đặc biệt sau nhiều vòng bừa còn giúp vùi gốc rạ và thảm thực vật xuống dưới lớp bùn, tạo điều kiện cho các vật chất hữu cơ phân hủy để bổ sung dinh dưỡng cho đất. Sau khi cày và bừa, người Chu Ru còn dùng dụng cụ san đất làm từ tấm gỗ phẳng để tạo một mặt ruộng phẳng, sẵn sàng cho việc điều tiết nước và gieo sạ.
Người Chu Ru ở Lâm Đồng cày ruộng trồng lúa
Kỹ thuật sử dụng bộ nông cụ cày bừa gắn liền với kinh nghiệm làm chủ sức kéo gia súc của người Chu Ru. Sử dụng trâu bò làm sức kéo và bộ nông cụ đã làm giảm đáng kể sức lao động tay chân. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng thửa ruộng, người dân có cách xử lý linh hoạt. Đối với những chân ruộng sình (bùn lầy) hay ruộng sâu, trâu được lùa đi nhiều vòng để giẫm sục bùn làm nhuyễn đất trước khi san phẳng bằng dụng cụ san đất. Đối với những thửa ruộng khô, quy trình làm đất đòi hỏi sự công phu qua nhiều bước tuần tự từ cày phá, bừa đập đất, cày trở để lật sâu lớp đất bên dưới, tiếp tục bừa lại cho thật tơi xốp rồi mới san phẳng bề mặt. Sự lặp lại chu kỳ cày bừa giúp tầng đất đạt độ tơi xốp tối đa, bảo đảm cho hệ rễ cây lúa dễ dàng bám sâu và phát triển khỏe mạnh.
Cánh đồng lúa nước của người Chu Ru ở Lâm Đồng
Sự vận hành của bộ nông cụ cày bừa trên đồng ruộng không thể tách rời khỏi hệ thống thủy lợi truyền thống và kinh nghiệm quan sát thời tiết của người Chu Ru. Trong canh tác lúa nước, nguồn nước giữ vai trò quan trọng đối với quá trình làm đất, gieo trồng và chăm sóc cây lúa. Để chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất, người dân đắp đập, xẻ mương, dẫn nước từ sông, suối vào đồng ruộng bằng những vật liệu sẵn có trong tự nhiên như đá, gỗ. Tùy điều kiện địa hình và nguồn nước, người Chu Ru thiết kế hệ thống mương, đập hợp lý để đưa nước đến các khu vực canh tác, tạo điều kiện chủ động trong việc sử dụng nước trên đồng ruộng.
Trong tổ chức xã hội cổ truyền, người Chu Ru có một chức danh đặc biệt gọi là Trưởng thủy, là người phụ trách quản lý và điều tiết nguồn nước tưới của buôn làng. Đây là vị trí gắn với kinh nghiệm sản xuất và sự am hiểu về địa hình, dòng chảy cũng như nhu cầu sử dụng nước của cộng đồng. Trưởng thủy có vai trò điều phối nguồn nước vào các thửa ruộng để phục vụ sản xuất, bảo đảm việc sử dụng nguồn nước được thực hiện phù hợp giữa các hộ gia đình. Công việc này đòi hỏi người đảm nhiệm phải có kinh nghiệm, nắm được đặc điểm của hệ thống mương, đập và biết cách phân phối nguồn nước theo điều kiện thực tế của đồng ruộng.
Bên cạnh việc điều tiết nguồn nước, Trưởng thủy còn có vai trò kết nối và huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc duy trì hệ thống thủy lợi. Trước mỗi vụ sản xuất, người dân cùng kiểm tra, sửa chữa, tu bổ những đoạn mương, đập bị hư hỏng. Sau những trận lũ lớn, công việc này càng trở nên cần thiết, nhằm bảo đảm nguồn nước có thể tiếp tục được dẫn về đồng ruộng. Vì vậy, hệ thống thủy lợi truyền thống không chỉ phục vụ nhu cầu sản xuất của từng gia đình mà còn thể hiện sự phối hợp giữa các thành viên trong cộng đồng. Việc quản lý và sử dụng nguồn nước được đặt trong mối quan hệ chung của buôn làng, trong đó Trưởng thủy giữ vai trò điều phối và tổ chức thực hiện.
Trước đây, người Chu Ru thường canh tác một vụ lúa nước mỗi năm, kéo dài khoảng 5 - 6 tháng. Hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguồn nước và thời gian sinh trưởng của các giống lúa truyền thống. Sau khi thu hoạch, ruộng có thể được để trống chờ đến vụ sau. Trong điều kiện chăn nuôi gắn với trồng trọt, phân gia súc là nguồn bổ sung chất hữu cơ cho đất. Ngày nay, cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi, việc đưa máy móc vào sản xuất và sử dụng các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, phương thức canh tác của người Chu Ru từng bước có những thay đổi. Tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước và sản xuất tại từng khu vực, một số nơi có thể bố trí thêm vụ lúa trong năm. Những thay đổi này cho thấy phương thức canh tác truyền thống luôn gắn với điều kiện tự nhiên và có sự điều chỉnh trước những tiến bộ của kỹ thuật nông nghiệp.
Cây lúa nước và bộ nông cụ cày, bừa truyền thống không chỉ gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn có mối liên hệ mật thiết với đời sống tinh thần và tổ chức cộng đồng của người Chu Ru. Trong tín ngưỡng đa thần truyền thống, cây lúa được quan niệm là có hồn và được các vị thần linh che chở. Vì vậy, các công đoạn trong chu kỳ canh tác, từ dẫn nước, làm đất, gieo trồng đến thu hoạch, đều gắn với những nghi lễ thể hiện lòng biết ơn và ước vọng về mùa màng thuận lợi. Trong một vụ lúa, người Chu Ru thực hiện nhiều nghi thức tâm linh như cúng thần đập nước, thần mương nước, cúng thần lúa khi gieo hạt, lễ mừng lúa mới và lễ cúng sau thu hoạch. Những nghi lễ này phản ánh niềm tin tâm linh, sự trân trọng đối với cây lúa và mong ước về cuộc sống no đủ, bình an của cộng đồng.
Trong đời sống sản xuất truyền thống của người Chu Ru, những công việc nặng nhọc trên đồng ruộng như đắp đập, làm đất, cày bừa và thu hoạch đã góp phần hình thành tập quán đổi công giữa các gia đình trong buôn làng. Vào những lúc cao điểm của mùa vụ, các gia đình thường hỗ trợ lẫn nhau trong lao động mà không tính công hay nhận tiền công. Tập quán này không chỉ giúp giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực trong sản xuất, mà còn thể hiện tinh thần tương trợ, góp phần thắt chặt tình làng nghĩa xóm và duy trì sự gắn kết giữa các gia đình trong cộng đồng. Cùng với những thay đổi trong phương thức sản xuất và đời sống xã hội, tập quán này không còn phổ biến như trước.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và quá trình cơ giới hóa nông nghiệp, máy móc hiện đại đã dần thay thế sức kéo của trâu, bò và các nông cụ truyền thống như cày gỗ, bừa tre trên đồng ruộng. Dù không còn được sử dụng phổ biến trong sản xuất, bộ nông cụ cày, bừa của người Chu Ru vẫn mang giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc. Được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, những hiện vật mộc mạc này góp phần tái hiện phương thức canh tác lúa nước truyền thống, đồng thời phản ánh tri thức dân gian, kinh nghiệm lao động và khả năng thích ứng của người Chu Ru với điều kiện tự nhiên. Các hiện vật không chỉ lưu giữ dấu ấn của một phương thức sản xuất trong quá khứ, mà còn góp phần giúp thế hệ hôm nay hiểu và trân trọng hơn về đời sống lao động và những giá trị văn hóa được cộng đồng gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Lê Trung Tuyển
Tài liệu tham khảo:
1. Bảo tàng Lâm Đồng. (n.d.). Cày [Thuyết minh số]. https://tmso.baotanglamdong.com.vn/bo-suu-tap/hien-vat/dan-toc/cay/ (Truy cập ngày 15/10/2026).
2. Bảo tàng Lâm Đồng. (n.d.). Bừa [Thuyết minh số]. https://tmso.baotanglamdong.com.vn/bo-suu-tap/hien-vat/dan-toc/bua/ (Truy cập ngày 15/10/2026).
3. Bộ Dân tộc và Tôn giáo. (2015, ngày 31 tháng 10). Người Chu-ru. Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo. http://www.cema.gov.vn/gioi-thieu/cong-dong-54-dan-toc/nguoi-chu-ru.htm (Truy cập ngày 15/10/2026).
4. Nguyễn Văn Diệu. (n.d.). Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng: Người Chu Ru. Cổng thông tin điện tử tỉnh Lâm Đồng. https://lamdong.gov.vn/sites/book/DTLD/churu.htm (Truy cập ngày 15/10/2026).