Bảo tàng Lâm Đồng | Lam Dong Museum

  • hinh1.jpg
  • hinh2.jpg
  • hinh3.jpg

Giới thiệu chung

Bảo Tàng Lâm Đồng

Bảo tàng Lâm Đồng là bảo tàng tổng hợp (khảo cứu địa phương), hiện đang lưu giữ trên 15.000 hiện vật với nhiều sưu tập hiện vật độc đáo và quý hiếm. Nội dung trưng bày của Bảo tàng bao gồm các phần chính như:

Lịch sử hình thành

Ngay sau khi đất nước độc lập thống nhất, công tác bảo tồn, bảo tàng ở Lâm Đồng đã được lãnh đạo tỉnh quan tâm. Tháng 8/1975, bộ phận Bảo tồn - Bảo tàng được thành lập, trực thuộc Thành ủy Đà Lạt - với nhiệm vụ sưu tầm, gìn giữ và bảo quản những hiện vật, tư liệu có giá trị lịch sử, văn hóa của tỉnh.

MORE:
Cơ cấu tổ chức Bảo tàng Lâm Đồng

Bảo tàng Lâm Đồng được thành lập từ những ngày đầu giải phóng, trải qua hơn 40 năm hoạt động, các thế hệ cán bộ và nhân viên của bảo tàng luôn nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Đội ngũ cán bộ, viên chức không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, luôn đảm đương tốt công tác quản lý và chuyên môn nghiệp vụ.
Sau nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức, bộ máy hoạt động của bảo tàng ngày càng trở nên hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

Ngày 28/8/2018, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 1680/QĐ-UBND về việc sáp nhập Ban quản lý di tích Cát Tiên vào Bảo tàng Lâm Đồng. Quyết định đã quy định về chức năng nhiệm vụ, bộ máy tổ chức của Bảo tàng Lâm Đồng dựa trên những đặc thù riêng của tỉnh Lâm Đồng.

  • Sơ đồ tổ chức:

MORE:
Tìm hiểu đôi nét về hình ảnh con Nghê, linh vật của người Việt xưa qua hiện vật trưng bày tại cung Nam Phương Hoàng hậu

Nghê là một linh vật đã xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ dân gian đến cung đình, góp phần làm nên một diện mạo tinh thần sống động, lạc quan và rất thân thuộc trong đời sống người Việt. Sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu với những biểu trưng dân gian đã khiến cho các nghệ nhân dân gian có thể phát huy tối đa khả năng sáng tạo, góp phần đưa biểu tượng Nghê trong văn hóa Việt Nam lên tầm của một linh vật đặc sắc, mang tâm hồn và bản sắc Việt Nam. Đây chính là một trong những thành tố văn hóa tiêu biểu nhất của nền văn hóa Việt Nam được sáng tạo bởi các nghệ nhân dân gian và cung đình trong lịch sử văn hóa dân tộc. 

Các hình thức ngược đãi tù nhân thiếu nhi tại Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt

Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt, nhà tù độc nhất vô nhị tại Việt Nam và có lẽ chưa từng có trên thế giới. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi tìm hiểu về nhà lao này đã nhận xét: “Tôi đã đọc nhiều và nghe nhiều chuyện kể về chế độ nhà tù khắc nghiệt dã man của Mỹ ngụy… Điều tôi không ngờ và chắc ít người biết là trong thế giới địa ngục trần gian ấy lại có một loại nhà lao dành cho thiếu nhi…”. Chúng ta có thể thấy “sự khắc nghiệt dã man” được tái hiện sinh động qua hình ảnh, tư liệu, hiện vật và những mô hình phục dựng tại Di tích quốc gia nhà lao thiếu nhi Đà Lạt. Qua đó, chúng ta càng trân trọng công lao to lớn của các thế hệ cha anh để đất nước có được nền độc lập, thống nhất và cuộc sống yên bình hôm nay.

Thần thoại của Ấn Độ về cuộc khuấy biển sữa

Thần thoại của Ấn Độ về sự khuấy động đại dương (khuấy biển sữa) kể lại câu chuyện về các vị thần (chư thiên và á thần), cùng những nghi lễ hiến tế, các linh vật theo triết lý Ấn Độ giáo. Ngày nay, chúng ta có thể thấy nhiều hình ảnh, hiện vật, các kiến trúc đền tháp cổ xưa, hay cả trong nghệ thuật tạo hình hiện đại của các nước Đông Nam Á, trong đó có mô típ trang trí tại các ngôi chùa Khmer ở miền Nam Việt Nam liên quan đến thần thoại này. Tại Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên, nơi mà các nhà nghiên cứu cho rằng, từ cách đây hơn ngàn năm từng là vùng thánh địa của các cư dân chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, cũng xuất lộ những hình ảnh các vị thần và linh vật liên quan đến thần thoại khuấy biển sữa. Bài tổng hợp tư liệu dưới đây giúp chúng ta cùng tìm hiểu về thần thoại này.

Chương trình giáo dục, trải nghiệm “Giữ gìn nét văn hóa dân gian trong in tranh Đông Hồ” tại Bảo tàng Lâm Đồng

Thực hiện Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động phục vụ học tập suốt đời trong thư viện, bảo tàng, trung tâm văn hóa đến năm 2030” theo Quyết định số 1520/QĐ-TTg, ngày 09/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 21 tháng 3 năm 2024, Bảo tàng Lâm Đồng phối hợp cùng Trường THCS-THPT Chi Lăng thực hiện chương trình giáo dục trải nghiệm “Giữ gìn nét văn hóa dân gian trong in tranh Đông Hồ”.

Di tích khảo cổ Cát Tiên – Dấu ấn của Ấn Độ giáo trên vùng cao Nam Tây nguyên

Với việc phát hiện di tích khảo cổ này, trong suốt gần 40 năm qua kể từ ngày di tích được phát hiện, khai quật và nghiên cứu. Từ những địa điểm có dấu hiệu di tích, hàng loạt các đợt khai quật liên tiếp thực hiện: 1994, 1996, 2000 – 2001, 2003, 2006, 2020 - 2021… diện mạo của di tích dần dần được lộ diện với những loại hình kiến trúc, xuất hiện với mật độ đậm đặc tại một địa bàn: đền thờ, đền mộ, nhà dài, hệ thống máng nước Somasutra, đường đá cổ, hệ thống đường nội bộ nối các điểm di tích, khu lò gạch cổ…

di tich khao co cat tien dau an Nam Tay nguyen 1

Khu lò gạch cổ (nguồn: Bảo tàng Lâm Đồng)

Việc xuất hiện những kiến trúc có quy mô lớn, nhiều cụm kiến trúc liên hoàn có sự tương hỗ lẫn nhau với nhiều công năng sử dụng khác nhau, xuất hiện với tần suất dày đặc tại một khu vực là bồn địa xã Quảng Ngãi (Cát Tiên), rải rác ở các vị trí khác (xã Đức Phổ, xã Gia Viễn huyện Cát Tiên) trên chiều dài 15km nằm trong bồn địa rộng hàng trăm hecta. Bao quanh là những ngọn đồi bát úp chạy theo hình cánh cung. Trên thực tế, phạm vi phân bố của di tích Cát Tiên còn có thể rộng hơn, dài hơn theo dòng chảy của sông Đồng Nai. Bởi tại di chỉ Đạ Lắk thuộc rừng cấm Nam Cát Tiên (tỉnh Đồng Nai) cũng đã phát hiện dấu vết của những kiến trúc gạch đá như vậy nằm trong rừng già. Di tích nằm trên một vị trí địa lý khá đặc biệt thỏa mãn yêu cầu khắt khe của đạo Hindu giáo Ấn Độ: Một bên là dãy núi hình cánh cung tượng trưng cho núi Meru, một bên là dòng sông Đồng Nai tượng trưng cho sông Hằng (Ganga).

Tại di tích Cát Tiên có đầy đủ các loại hình kiến trúc để phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo. Việc phát hiện các kiến trúc đền thờ: kiến trúc số 1A, 2A, 2B, 3, 4, 6A, 6B, 7, 8A; ngoài ra còn có các đền thờ phụ; kiến trúc đền mộ: kiến trúc số 5; kiến trúc nhà dài: kiến trúc 2C, 2D, 8B, 8C, và một hệ thống đường nội bộ, khu lò gạch ... có những cụm kiến trúc được xây dựng trên diện tích hàng ngàn mét vuông.

di tich khao co cat tien dau an Nam Tay nguyen 2Cụm kiến trúc số 2

Với một quần thể kiến trúc quy mô khá rộng lớn, hoàn chỉnh như vậy, chủ nhân của di tích phải có một tiềm lực kinh tế - chính đủ mạnh mới có thể xây dựng được những công trình hoành tráng, bề thế đến vậy. Hơn thế, các kiến trúc đền đài ở Cát Tiên được xây dựng bằng một khối lượng gạch đá khổng lồ, thời kỳ đó chưa có sự hỗ trợ của các phương tiện vận chuyển như hiện nay, cũng cần phải có một lực lượng tín đồ “đông đảo” mới có thể vận chuyển vật liệu đủ để xây các công trình "vĩ đại" như thế. Mặc dù vật liệu chính để xây dựng đền là gạc) được sản xuất tại địa phương, tuy nhiên, nhiều những phiến đá lớn phát hiện tại các điểm kiến trúc được sử dụng lại không có sẵn tại địa phương. Câu hỏi đặt ra: chủ nhân xưa đã vận chuyển những phiến đá đó như thế nào từ nơi khai thác để đưa tới các điểm kiến trúc? Hay ai là chủ nhân xây dựng nên những công trình kỳ vĩ như vậy? Bây giờ những người đó họ đã đi đâu, về đâu? Đến nay, nhiều câu trả lời liên quan đến di tích khảo cổ Cát Tiên mới chỉ dừng lại ở mức độ giả thuyết. Chúng ta vẫn chưa tìm ra những căn cứ xác đáng để trả lời cho những câu hỏi nêu trên.

Hàng loạt các cuộc khai quật cho chúng ta thấy rằng các kiến trúc tại đây được xây dựng để thờ các vị thần Ấn Độ giáo, mà điển hình nhất là việc thờ ngẫu tượng Linga – Yoni. Việc phát hiện một bộ sưu tập Linga – yoni (gồm 31 hiện vật bao gồm hiện vật phát hiện khai quật, thám sát, và hiện vật sưu tầm tại Cát Tiên) biểu tượng thờ chủ đạo trong các ngôi đền với nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau (Bộ linga - Yoni đá phát hiện tại kiến trúc 1A lớn nhất Đông Nam Á; Linga nhỏ bằng vàng phát hiện tại các trụ giới trong đền thờ) và bằng nhiều chất liệu khác nhau (Đá, đá quý, vàng, bạc, đồng, gốm) cũng đã nói lên điều đó. Linga được thể hiện đầy đủ ba phần (vuông, bát giác, trụ tròn tượng trưng cho ba vị thần Brahma, Visnu, Siva), Linga hai phần (Visnu – Siva) hoặc Linga một phần (Siva) đều được thể hiện khá đầy đủ tại di tích này. Linga mang tính dương, yoni mang tính âm thể hiện tính phồn thực sinh sôi, nảy nở. Điều này cũng phù hợp với mong muốn của những cư dân nông nghiệp: luôn cầu mong cho mùa màng bội thu, con người sinh con cháu đông đúc.

Cùng với đó là bộ sưu tập trên 400 hiện vật vàng có giá trị được tìm thấy trong các đợt khai quật, với những đề tài trang trí khác nhau: động vật (thể hiện dưới dạng vật cưỡi của các vị thần như: Nadin, Hamsa, Kuma, Garuda, ...), hoa lá, nhưng chủ đạo vẫn là hình ảnh các vị thần của đạo Hindu giáo như: Brahma, Visnu, Siva, Laskmi, Ganesa, Indra,… Những hiện vật vàng có thể khắc chìm hoặc chạm nổi với đường nét từ gồ ghề, thô sơ trong kỹ thuật chạm khắc đến những đường nét sắc sảo, khỏe khoắn và mềm mại, sống động thông qua nghệ thuật tạo hình chạm nổi. Dù mỗi vị thần có những hình thức thể hiện khác nhau nhưng thông qua những hiện vật đó các vị thần được hiện lên vô cùng sinh động trong thế giới của các thần linh.

Với quy mô di tích rộng lớn, nhiều loại hình kiến trúc cùng với bộ sưu tập hiện vật phong phú, đa dạng đã phát hiện tại đây. Chúng ta có thể khẳng định: Di tích Cát Tiên chính là một di tích lớn mang ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trên vùng đất phía Nam. Với sự tồn tại của di tích này, cùng với việc phát hiện các di tích khác cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam, Hindu giáo Ấn Độ đã chứng tỏ sự phát triển rực rỡ vươn tầm châu lục của mình, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ suốt một thời kỳ lịch sử.

Đinh Chung